Ảnh Mùa Thu Khắp Nơi Trên Thế Giới

Mùa thu là mùa lãng mạn nhất trong năm , đến Đất Nước Nhật Bản,Hàn Quốc... được đi trên những con đường trải đầy lá vàng rơi, những hàng cây phong đỏ lung linh trong nắng vàng ruộm

Điểm Du Lịch Trăng Mật Lãng Mạn Nhất Trên Thế Giới

awkshea ,Bahamas, Phú Quốc…được đánh giá là những nơi tốt nhất để hưởng du lịch trăng mật lãng mạn ….

Thả trôi ký ức ở Maldives

Maldives là điểm du lịch nổi tiếng nhất trên thế giới được mệnh danh là thiên đường trên trái đất , hàng năm thu hút rất nhiều lượng khách .Đây là nơi dừng chân lý tưởng cho những ai đi lựa chọn điểm du lịch trăng mật .

Cánh Đồng Muối Trải Dài Bất Tận

Salar de Uyuni hay Salar de Tunupa nằm ở phía Tây Nam đất nước Bolivia, có diện tích khoảng 10.582 km2, chứa được 5 tỉ tấn muối . Được mệnh danh là cánh đồng muối lớn nhất thế giới.

Đảo Turtle Fiji–Nơi lãng mạn dành cho hai người

Nếu bạn yêu thích biển cả, chắc chắn bạn sẽ cảm thấy thích thú với 14 bãi biển của đảo Turtle. Bạn có thể vừa thưởng thức rượu vang dưới khung cảnh lãng mạn trong ánh sáng của những ngọn đèn xinh xắn nằm dọc theo khu Blue Lagoon…

Thứ Ba, 14 tháng 6, 2011

Giới Thiệu Vương Quốc Anh - Nước Anh

 Vương quốc Anh

   Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (tiếng Anh: United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland, tên gọi ngắn là United Kingdom, viết tắt là UK) là một quốc gia nằm ở phía tây bắc châu Âu. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland bao gồm 4 phần chính là Anh (England), Scotland, Wales và Bắc Ireland. Ngoài ra Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland còn bao gồm một số hòn đảo và quần đảo khác tại nhiều nơi trên thế giới. Vương quốc này có chung đường biên giới với Ireland. Theo số liệu tháng 7 năm 2007, dân số của vương quốc là 60.776.238 người , mật độ dân số khoảng 246 người/km².



Phần lớn địa hình Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là những vùng đất thấp xen kẽ với núi non. Do nằm ở vĩ độ trung bình và chịu ảnh hưởng của hải lưu Gulf Stream, vương quốc có một khí hậu khá ôn hòa và lượng mưa tương đối lớn. Tại nước này thường hay xảy ra bão tuyết và lũ lụt.

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 1 tháng 9 năm 1973.

Trong tiếng Việt, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland còn được gọi tắt là Vương quốc Liên hiệp Anh, Vương quốc Anh (mặc dù có thể lẫn lộn với Kingdom of Great Britain, hoặc ngắn gọn là Anh (mặc dù Anh -England chỉ là 1 trong 4 vùng chính của Vương quốc). Trong phiên âm Hán-Việt, Great Britain được phiên thành Đại Bất Liệt Điên nhưng cách dùng này được ít người biết và sử dụng, đôi khi viết Đại Anh.


Lịch sử

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland hiện tại là liên minh sau chót của hàng loạt những liên minh từng được thành lập trong vòng 300 năm qua. Vương quốc Scotland và Vương quốc Anh từng tồn tại với tư cách các quốc gia độc lập với hoàng gia và các cơ cấu chính trị riêng biệt từ thế kỷ thứ 9. Xứ Wales cũng từng một thời là lãnh thổ độc lập đã rơi vào tầm kiểm soát của hoàng gia Anh từ sau Đạo luật Rhuddlan năm 1284, và chính nó cũng trở thành một phần của Vương quốc Anh theo các điều luật trong Đạo luật Wales 1535. Theo Đạo luật liên minh 1707, các nước Anh và Scotland, vốn từng là các quốc gia liên minh riêng biệt từ năm 1603, đã đồng ý thành lập một liên minh chính trị gọi là Vương quốc Đại Anh (Kingdom of Great Britain)

Đạo luật liên minh 1800 đã thống nhất Vương quốc Đại Anh với Vương quốc Ireland, nước này đã dần rơi vào vòng kiểm soát của Anh từ giai đoạn 1541 - 1691, để hình thành nên Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. Nước Cộng hòa Ireland hiện nay tuyên bố độc lập năm 1922 sau khi tách khỏi hòn đảo Ireland từ hai năm trước đó, sáu trong số chín hạt của tỉnh Ulster vẫn nằm trong Vương quốc Anh, sau này đã đổi
thành tên hiện nay năm 1927 Đế quốc Anh năm 1897

Là một cường quốc công nghiệp và hàng hải trong thế kỷ 19, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland thường được gắn liền với danh hiệu quốc gia góp phần "hình thành lên thế giới hiện đại", khi đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc phát triển các tư tưởng về sở hữu, chủ nghĩa tư bản và dân chủ nghị viện phương Tây cũng như có những đóng góp to lớn trong văn học, nghệ thuật, khoa học và công nghệ. Ở thời cực thịnh, Đế quốc Anh trải dài trên hơn một phần tư bề mặt Trái Đất và chiếm một phần ba dân số thế giới, biến nó trở thành đế chế lớn nhất trong lịch sử. Tuy nhiên, nửa đầu thế kỷ 20, sức mạnh của nó dần suy giảm sau những hậu quả của Thế chiến thứ nhất và thứ hai. Nửa sau thế kỷ 20, đế quốc này tan rã và Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đã tái lập lại hình ảnh quốc gia thịnh vượng và kinh tế phát triển của mình hiện nay.

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đã trở thành một thành viên Liên minh Châu Âu từ năm 1973. Thái độ của chính phủ hiện tại về việc hội nhập sâu thêm vào tổ chức này hiện không thống nhất, khi Đảng Bảo thủ ủng hộ việc thu hồi một số quyền lực lại cho quốc gia. Chính phủ Anh cũng chưa quyết định việc sử dụng đồng tiên chung euro. Kế hoạch tổ chức cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề này chỉ được thực hiện nếu và khi thử nghiệm ở năm nền kinh tế cho thấy việc gia nhập Eurozone mang lại hiệu quả

Giới Thiệu Quốc Gia Đức - Nước Đức

    Cộng Hoà Liên Bang Đức là một trong các nước công nghiệp hoá nhiều nhất trên thế giới, nằm ở giữa châu Âu và có chung đường biên giới với các nước Đan Mạch, Ba Lan, Cộng hoà Czesk, Áo, Pháp, Luxembourg, Bỉ và Hà Lan. Ở phía bắc, Đức nằm giáp ranh với biển Baltic và Bắc Hải. Đức là một trong những thành viên sáng lập của Liên Minh Châu Âu và là nước đông dân nhất trong khối này. Ngoài ra Đức còn là thành viên trong khối NATO và G8.




Xem Chưa có tiêu đề ở bản đồ lớn hơn

Thủ đô và trụ sở của chính phủ Đức nằm tại Berlin; một số trụ sở của các bộ liên bang nằm tại Bonn. Nước Đức có tất cả 16 tiểu bang.

Địa lý

Nằm giữa vùng đồng bằng được hình thành từ thời kỳ băng hà (Ice Age) ở phía bắc và dãy núi cao Alpen (An-pờ) ở phía nam là một vùng rừng núi với độ cao trung bình trải rộng ở miền trung. Nơi thấp nhất nước Đức là Neuendorf-Sachsenbande ở Wilstermarsch với 3,54 m dưới mực nước biển. Ngọn núi cao nhất là Zugspitze với độ cao 2.962 m.
Những sông chính là Rhein, Donau, Elbe, Weser và Oder. Điều kiện khí hậu khắc nghiệt giống như hạn hán, gió xoáy, bão, thời tiết băng giá hay nóng bức thường ít xảy ra ở đây vì Đức thuộc vào khu vực khí hậu ôn đới. Động đất với hậu quả nghiêm trọng cũng chưa hề có, nếu có cũng chỉ ở mức độ không đáng kể.

Các thành phố

Các thành phố lớn nhất của Đức là Berlin, Hamburg, München, Cologne, Frankfurt, Dortmund, Essen, Stuttgart và Düsseldorf.

Dân số

Diện tích nước Đức chỉ lớn hơn nước láng giềng Ba Lan một chút, nhưng dân số lại nhiều hơn gấp đôi. Trong số đó 68 triệu là người Đức, còn lại 15 triệu là người nước ngoài hay có nguồn gốc từ các nước khác. Khoảng 75 triệu người có quốc tịch Đức, một số ít trong số đó còn có thêm quốc tịch nước khác bên cạnh quốc tịch Đức. Khoảng 7,5 triệu người là người nước ngoài.

Ngôn ngữ

Ngôn ngữ nói và viết chính thức là tiếng Đức (Hochdeutsch).

Tôn giáo

Hai tôn giáo chính ở Đức là đạo Cơ Đốc và đạo Do Thái. Hồi giáo chỉ mới xuất hiện và lan rộng ở Đức sau chiến tranh thế giới lần thứ nhì. Phần lớn đân số Đức theo đạo Cơ Đốc: 32,0% theo đạo Tin Lành (Bắc và Đông Đức), 31,7% theo đạo thiên chúa La Mã (Tây và Nam Đức), 1,14% theo đạo Cơ Đốc chính thống. Khoảng 27% người Đức không theo tôn giáo nào cả, phần lớn trong số họ sống ở miền Bắc, nhất là những vùng thuộc về Đông Đức cũ. Số còn lại theo các đạo khác.

Những ngày lễ


Phần lớn các ngày lễ ở Đức đều bắt nguồn từ các ngày lễ của giáo hội giống như lễ Giáng Sinh và lễ Phục Sinh. Trong khi ngày quốc khánh và ngày 1/5 được quy định rõ trong luật liên bang là ngày lễ của toàn quốc, thì những ngày lễ còn lại đều do luật của mỗi tiểu bang tự quy định riêng. Ví dụ, trong khi những người ở Bayern được nghỉ lễ thì những người sống ở Berlin vẫn phải đi làm bình thường.

Chính trị

Thủ đô và trụ sở chính phủ của cộng hòa liên bang Đức là Berlin. Theo điều luật 20, hiến pháp Đức thì cộng hòa liên bang Đức là một đất nước dân chủ, xã hội và hợp kiến. Nước Đức có tất cả 16 bang, một số bang được hình thành bởi nhiều khu hành chính khác nhau. Đất nước được cai quản theo hiến pháp (Grundgesetz). Trong khi nguyên thủ quốc gia là tổng thống với nhiệm vụ đại diện cho đất nước, thì thủ tướng là người điều hành đất nước. Thủ tướng là người có quyền quyết định đường lối lãnh đạo chính trị.
Nước Đức là một liên bang, điều đó có nghĩa là bộ máy chính trị của Đức được chia ra làm hai cấp: cấp liên bang, đại diện cho quốc gia về mặt đối ngoại, và cấp tiểu bang của từng bang một. Mỗi cấp đều có một bộ máy hành chính riêng: hành pháp (executive), lập pháp (legislative) và tư pháp (judicial).
Các điều luật của liên bang được ban hành bởi quốc hội liên bang (Bundestag) cùng với hội đồng quốc gia liên bang (Bundesrat). Trong trường hợp 2/3 đa số của cả hai cơ quan này đều chấp thuận, hiến pháp mới được phép được thay đổi. Các điều luật ở cấp tiểu bang đều do quốc hội tiểu bang (Landestag) quyết định.
Trong khi bộ máy hành pháp cấp liên bang được hình thành bởi chính phủ liên bang dưới sự lãnh đạo của thủ tướng, thì các thứ trưởng có quyền ban hành sắc lệnh ở cấp tiểu bang. Các cơ quan hành chính ở cấp liên bang và tiểu bang được điều hành bởi các bộ trưởng.
Toàn án hiến pháp liên bang có nhiệm vụ theo dõi và đánh giá việc tuân thủ hiến pháp của các cơ quan nhà nước khác. Tòa án tối cao của liên bang Đức nằm tại Karlsruhe. Phần lớn các vụ việc đều do các tòa án tiểu bang quyết định, tòa án hiến pháp liên bang chỉ là nơi cuối cùng kiểm tra và xem xét lại các quyết định của các tòa án tiểu bang.

Kinh tế

Đức vốn không có nhiều tài nguyên thiên nhiên, cho nên nền kinh tế của nước này chủ yếu tập trung vào ngành công nghiệp và dịch vụ. Phần lớn diện tích nước Đức được dùng cho nông nghiệp, nhưng chỉ có 2% - 3% dân số Đức làm việc trong ngành này. Với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hơn 2.271 tỉ Euro, Đức là nước công nghiệp với nền kinh tế quốc gia lớn thứ 3 thế giới.

Giáo dục

Mỗi tiểu bang của Đức đều có quyền quyết định riêng về hệ thống giáo dục ở bang đó. Tuy nhiên để tạo nên sự cân bằng tương đối trong toàn liên bang, các tiểu bang tuân theo những đường lối chung về giáo dục do hội nghị liên bang định ra.

Trên toàn nước Đức, tất cả trẻ em đều có nghĩa vụ phải học đến hết lớp 9. Trong khi ở một số bang chương trình phổ thông chỉ kéo dài 12 năm, thì ở các bang khác tới những 13 năm. Sau khi tốt nghiệp bậc trung học (lớp 10), thanh niên ở Đức có nhiều sự lựa chọn. Họ có thể học nghề ở các trường dạy nghề, hay học hết phổ thông để lấy bằng Abitur (tương đương với bằng tốt nghiệp phổ thông ở Việt Nam). Sau Abitur họ có thể chọn học tiếp ở trường đại học chuyên sâu về nghiên cứu (Universität) hay chuyên sâu về công nghệ (Fachhochschule, thường được dịch sai ra tiếng Việt là trường cao đẳng). Bằng tốt nghiệp giữa hai loại trường đại học này đều không có sự khác biệt gì cả, nhưng trên thực tế thì bằng Universität vẫn được coi trọng hơn. Bù lại, sinh viên tốt nghiệp trường Fachhochschule nhanh tìm được việc làm hơn, vì trong quá trình học, họ có cơ hội để thu thập được nhiều kinh nghiệm thực hành, một trong những yếu tố được đánh giá cao ở Đức.

Trong thời gian gần đây, hệ thống giáo dục của Đức bị OECD chỉ trích rất nhiều. Mặc dù những thiếu sót và sai lầm trong hệ thống này đã được nhận rõ, nhưng người ta vẫn chưa có biện pháp sửa chữa.

Giao thông
Từ giữa thế kỷ 20 hệ thống giao thông đường bộ của Đức đã thay thế hệ thống giao thông đường sắt chiếm vị trí quan trọng nhất. Đức là một trong những nước có mạng lưới giao thông dày nhất thế giới, bao gồm 11.980 km đường cao tốc và 41.386 km đường liên tỉnh.

Cùng với sự tư nhân hóa năm 1993, hệ thống đường sắt dần dần bị thu nhỏ và hạn chế lại, trong khi hệ thống giao thông hàng không ngày càng phát triển. Sân bay Frankfurt am Main hiện tại là sân bay lớn nhất ở Đức. Mặc dù giao thông đường bộ và hàng không gây ra nhiều ô nhiễm môi trường, Đức vẫn không ngừng đầu tư và mở rộng hai hệ thống này, thay vì tập trung vào sử dụng hệ thống đường sắt vốn có một số ưu thế.
Hệ thống giao thông đường thủy cũng có một vị trí rất quan trọng đối với một nuớc có nền ngoại thương phát triển như Đức.


Văn hóa và thể thao


Đức nổi tiếng là đất nước của các nhà thơ và các nhà triết học (Land der Dichter und Denker). Nơi đây là quê hương của các nhà soạn nhạc nổi tiếng như: Ludwig van Beethoven, Johann Sebastian Bach, Johannes Brahms, Clara Schumann, Robert Schumann, Richard Wagner; các nhà thơ như Johann Wolfgang von Goethe, Friedrich Schiller hay Heinrich Heine, các nhà triết học Gottfried Leibniz, Immanuel Kant, Georg Wilhelm Friedrich Hegel, Karl Marx, Friedrich Engels, Arthur Schopenhauer, Friedrich Nietzsche và Martin Heidegger; các nhà văn Hermann Hesse, Thomas Mann, Heinrich Böll hay Günter Grass; các nhà khoa học lừng danh như Johannes Kepler, Ernst Haeckel, Albert Einstein, Max Born, Max Planck, Werner Karl Heisenberg, Gustav Hertz, Heinrich Rudolf Hertz và Robert Wilhelm Bunsen và các nhà phát minh, sáng chế như Johannes Gutenberg, Nikolaus August Otto, Werner von Siemens, Wernher von Braun, Carl Ferdinand Braun, Gottlieb Daimler, Carl Friedrich Benz, Rudolf Diesel và Carl von Linde.

Tiếng Đức đã từng một thời là ngôn ngữ chung ở trung tâm Châu Âu, Bắc Âu và Đông Âu. Ngày nay tiếng Đức là một trong những ngôn ngữ được dạy nhiều nhất trên thế giới, và là ngoại ngữ được yêu chuộng thứ hai sau tiếng Anh ở Châu Âu. Có rất nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng, mặc dù không phải là công dân Đức, nhưng vẫn được coi là người Đức bởi sự hiểu biết sâu sắc về nền văn hòa Đức của họ giống như Wolfgang Amadeus Mozart, Franz Kafka và Stefan Zweig.

Thể thao
Môn thể thao được yêu thích nhất ở Đức là bóng đá. Giải bóng đá thế giới năm 2006 sẽ được tổ chức tại Đức. Câu lạc bộ bóng đá nổi tiếng nhất của Đức là đội FC Bayern München (tiếng Anh: Bayern Munich) ở tiểu bang Bayern (tiếng Anh: Bavaria). Ngoài bóng đá ra thì môn thể thao được khán giả truyền hình xem nhiều nhất là môn đua xe Công thức 1 (Formula One). Trong thời gian gần đây, bóng rổ ngày càng được yêu chuộng nhiều hơn trong lớp trẻ, tuy nhiên số lượng khán giả theo dõi môn này trên truyền hình vẫn kém xa môn đua xe. Ngoài ra môn bóng ném và khúc côn cầu trên băng cũng được nhiều người yêu thích.

Ẩm thực

Ẩm thực ở Đức rất đa dạng và thay đổi tùy theo vùng. Ẩm thực Đức nổi tiếng trước tiên là các món ăn "nặng" như giò heo luộc với bắp cải ngâm chua (Sauerkraut). Ở phía Nam người ta còn dùng nhiều mì sợi các loại. Các món ăn đặc sản còn có xúc xích trắng (Weißwurst) ở Bayern hay bao tử heo (Saumagen) ở vùng Pfalz. Ngoài ra người Đức rất yêu thích bia (cũng khác nhau tùy theo vùng) và rượu vang. Vì theo điều kiện khí hậu nên trồng và uống rượu vang phổ biến ở phía Tây và Nam của Đức nhiều hơn là ở phía Bắc và Đông.

Lịch sử

Ngôn ngữ Đức và nguồn gốc Đức đã tồn tại cách đây hàng nghìn năm, nhưng nước Đức là một quốc gia hiện đại như ngày nay chỉ mới được thành lập từ năm 1871, khi đế chế Đức, còn được biết đến là đế chế thứ hai, được dựng lên dưới triều đại Phổ.

Giới Thiệu Châu Âu - Thông Tin Châu Âu

Thông Tin Chau Au Du Lich Van Hoa Xa Hoi Con Nguoi

    Châu Âu về mặt địa chất và địa lý là một bán đảo hay tiểu lục địa, hình thành nên phần cực tây của đại lục Á-Âu, hay thậm chí Âu Phi Á, tùy cách nhìn. Theo quy ước, nó được coi là một lục địa, trong trường hợp này chỉ là một sự phân biệt thuần về văn hóa hơn là địa lý. Phía bắc giáp Bắc Băng Dương, phía tây giáp Đại Tây Dương, phía nam giáp Địa Trung Hải và biển Đen, tuy nhiên về phía đông thì hiện không rõ ràng. Tuy nhiên có thể coi dãy núi Ural được coi là vùng đất với địa lý và kiến tạo rõ rệt đánh dấu ranh giới giữa châu Á và châu Âu (xem chi tiết trong bài Địa lý châu Âu). Khi được coi là một lục địa thì châu Âu thuộc loại nhỏ thứ hai trên thế giới về diện tích, vào khoảng 10.600.000 km², và chỉ lớn hơn Úc. Xét về dân số thì nó là lục địa xếp thứ ba sau châu Á và châu Phi. Dân số của châu Âu vào năm 2003 ước tính vào khoảng 799.466.000: chiếm vào khoảng một phần tám dân số thế giới.

 Âu châu là một từ Hán-Việt, có gốc từ chữ Trung Quốc  Âu (hay đầy đủ là Âu La Ba), là chữ phiên âm từ Europa. Nàng Europa là một Công chúa người Phoenicia trong thần thoại Hy Lạp, bị thần Zeus - Cha của các vị thần - dưới dạng một con bò trắng dụ đưa đến đảo Crete, tại đó nàng hạ sinh Minos - sau là Chúa đảo Crete. Trong các tác phẩm của Homer, là tên vị hoàng hậu thần thoại của đảo Crete, chứ không phải địa danh. Sau đó, từ này trở thành tên gọi của mảnh đất Hy Lạp và đến năm 500 TCN, ý nghĩa của nó được dùng rộng ra cho cả phần đất đó lên tận phía bắc.
 Xét rộng ra thì từ này trong tiếng Hy Lạp gồm hai từ eurys ("rộng") và ops ("mặt"), tuy nhiên giả thuyết này không rõ ràng. Một số nhà ngôn ngữ học đưa ra một giả thuyết khác dựa trên nguồn gốc dân gian là từ này có gốc từ tiếng Semit, bản thân lại mượn từ erebu trong tiếng Akkadia, nghĩa là "mặt trời lặn" (tức phương Tây) (xem thêm Erebus). Đứng từ phía châu Á hay Trung Đông thì đúng là Mặt Trời lặn ở phần đất châu Âu–mảnh đất phía tây. Cũng thế, tên gọi châu Á có gốc từ asu trong tiếng Akkadia, nghĩa là "mặt trời mọc", chỉ vùng đất phía đông dưới góc nhìn của một người Lưỡng Hà.
Sự hình thành của châu Âu
     Châu Âu có một quá trình lịch sử xây dựng văn hóa và kinh tế tương đối lâu đời, có thể xét từ thời Đá Cũ (Paleolithic). Việc khám phá ra những viên đá hình bàn tay có độ tuổi cách đây 800.000 năm theo phương pháp định tuổi cácbon mới đây tại Monte Poggiolo, Ý, có thể có những ý nghĩa đặc biệt.
     Nền văn minh Hy Lạp cổ đại được coi là "Bà mẹ của châu Âu". Tương truyền, người Troia ở Tiểu Á đã cóc vợ của vua Menelaus người Hy Lạp. Để đáp trả, quân Hy Lạp vượt biển làm nên cuộc chiến tranh thành Troia, và phá được thành này. Trong các thành bang Hy Lạp cổ, nền quân chủ Sparta thì tập trung xây dựng chủ nghĩa quân phiệt, còn nước Cộng hòa Athena dân chủ thì phát triển hoàng kim dưới thời cầm quyền của lãnh tụ Perikles. Nhờ tài năng của mình, các chiến binh Sparta đã đánh tan tác quân xâm lược Ba Tư.Khái niệm dân chủ và văn hóa cá nhân của phương Tây thường được coi có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại, cùng với nhiều nguồn ảnh hưởng khác, đặc biệt là đạo Cơ Đốc (một tôn giáo xuất hiện đầu tiên từ thời La Mã cổ đại sau này cũng có thể được coi là đã mang lại những khái niệm như tư tưởng bình quyền và phổ cập luật pháp. Vào thế kỷ thứ IV trước Công nguyên, tộc Hy Lạp có Vương quốc Macedonia vươn lên, vua Alexandros Đại Đế (trị vì: 336 - 323 trước Công nguyên) mở rộng bờ cõi đất nước cho đến tận sông Ấn trong một loạt cuộc chinh phạt lẫy lừng của ông, nhưng những cuộc chiến tranh liên miên này kết thúc sau khi ông qua đời.
Vào năm 753 trước Công nguyên, nước La Mã ra đời với việc vua Romulus gầy dựng "kinh thành vĩnh cửu" Roma.[3] Thoạt đầu họ lâm chiến với Vương quốc Ipiros do vua Pyrros trị vì (282 - 272 trước Công nguyên), và dù ban đầu ông vua mạo hiểm này giữ được xứ Syracuse,quân La Mã cuối cùng đã đánh bại được nền văn minh Hy Lạp xưa.[3] Đế quốc La Mã đã từng chia lục địa châu Âu dọc theo sông Rhine và sông Danube qua hàng thế kỷ. Tiếp theo sự sụp đổ của Đế quốc La Mã, châu Âu đã bước vào một thời kỳ dài đầy biến động thường được biết đến dưới tên gọi Thời kỳ Di cư. Thời kỳ đó còn gọi là "Thời kỳ Đen tối" theo các nhà tư tưởng Phục Hưng, và là "Thời kỳ Trung cổ" theo các nhà sử học đương đại và những người thuộc phong trào Khai sáng. Trong suốt thời gian này, các tu viện tại Ireland và các nơi khác đã gìn giữ cẩn thận những kiến thức đã được ghi chép và thu thập trước đó. Thời kỳ Phục Hưng và Những nền quân chủ mới đánh dấu khởi đầu của một giai đoạn khám phá, khai phá, và tăng cường kiến thức khoa học.
Vào thế kỷ thứ 16, với những vị Hoàng đế tài ba như Selim I (trị vì: 1520 - 1520) và Suleiman I (trị vì: 1520 - 1566) Đế quốc Ottoman của người Thổ Nhĩ Kỳ đã phát triển cường thịnh, mở rộng bờ cõi đánh vùng Đông Âu và Địa Trung Hải. Các Đế quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cũng tiến hành khai phá thuộc địa, chiếm lĩnh được không ít đất đai ở châu Mỹ La Tinh.[9] Tiếp theo là các nước Pháp, Hà Lan và Anh đã hình thành nên các Đế quốc thực dân với bạt ngàn đất đai và tài sản tại châu Phi, châu Mỹ, và châu Á. Vào thế kỷ thứ 17, Đế quốc Thụy Điển vươn lên trở thành một liệt cường đáng gờm ở phương Bắc, với những binh sĩ tinh nhuệ và những chiến công hiển hách của vua Gustav II Adolf (trị vì: 1661 - 1632) - một ông vua xuất sắc chống quân Đan Mạch, quân Ba Lan và quân Áo. Cùng thời, Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva - một nhà nước Cộng hòa có vua do dân bầu lên - cũng đạt đến đỉnh cao chói lọi.[10] Nhưng rồi Ba Lan suy yếu trước cuộc xâm lược của quân Phổ, quân Moskva và quân Thụy Điển, tạo điều kiện cho Công quốc Phổ và Đại Công quốc Moskva trở nên hùng cường. Từng là một chư hầu của Ba Lan, Quận công Friedrich Wilhelm I (trị vì: 1640 - 1688) đã giành toàn vẹn độc lập cho lãnh địa và xây dựng xứ Phổ.[10] Xứ Phổ còn đe dọa mạnh mẽ đến sức mạnh quân sự của Thụy Điển. [9]
Trong các thế kỷ thứ 18 và 19, Công quốc Phổ và Đại Công quốc Moskva trở thành Vương quốc Phổ bé nhỏ của người Đức và Đế quốc Nga rộng lớn - là những liệt cường phát triển lớn mạnh ở phía Đông.[11] Vào đầu thế kỷ thứ 18, trong khi nước Nga cải cách vươn lên và đánh bại được Đế quốc Thụy Điển thì sự trỗi dậy của nước Phổ gắn liền với một bộ máy Chính phủ hữu hiệu, một lực lượng hùng binh mãnh tướng và một nền giáo dục đáng tự hào.[12] Những năm tháng hoàng kim của họ gắn liền với những chiến công lừng lẫy của vị vua hùng tài đại lược nước Phổ Friedrich II Đại Đế (trị vì: 1740 - 1786) và những cuộc chinh phạt lớn lao của vị Nữ hoàng tài năng hơn người Ekaterina II Đại Đế nước Nga (trị vì: 1762 - 1796). Vào năm 1772, với tài năng ngoại giao của mình, vua Phổ mang lại lợi ích cho nước nhà khi ông cùng Nga và Áo tiến hành cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ nhất.[12][11] Trong khi đó, Thổ Nhĩ Kỳ suy vong, bị Nga đánh bại và lấy đất.
Sau thời kỳ khai phá châu Âu
Sau thời kỳ khai phá, các ý niệm về dân chủ bắt rễ tại châu Âu. Vào thế kỷ thứ 18, trào lưu triết học Khai Sáng ở Pháp có những nhà triết học hàng đầu như Voltaire (François-Marie Arouet, 1694 - 1778) - bạn hữu của vua Phổ Friedrich II Đại Đế[11] - và Jean-Jacques Rousseau (1712 - 1778).[13] Ngay từ năm 1688, cuộc Cách mạng Vinh Quang đã giành thắng lợi tại Anh, lật đổ ông vua độc đoán James II.[14] Thậm chí tại một số nước phong kiến như Phổ và Nga, các vị minh quân Friedrich II Đại Đế và Ekaterina II Đại Đế đã tiến hành những cải cách tiến bộ, dù không triệt để.[15] Vua Friedrich II Đại Đế cũng từng tham gia trong Hội Tam Điểm - một tổ chức bí mật có tư tưởng tiến bộ.[11] Vào năm 1789, ngọn lửa Cách mạng Pháp cũng rực cháy, đến độ vào năm 1793 vua Louis XVI bị hành quyết.[16] Kết quả đã dẫn đến những biến động to lớn tại châu Âu khi các tư tưởng cách mạng này truyền bá khắp lục địa. Việc hình thành tư tưởng dân chủ khiến cho căng thẳng trong châu Âu không ngừng gia tăng, ngoài những căng thẳng đã có sẵn do tranh giành tài nguyên tại Tân Thế giới. Một trong những căng thẳng tiêu biểu trong thời kỳ này là khi Napoléon Bonaparte lên ngôi Hoàng đế đã tiến hành các cuộc chinh phục nhằm hình thành một Đế chế thứ nhất của người Pháp, tuy nhiên Đế chế này nhanh chóng sụp đổ. Sau các cuộc chinh phục này, châu Âu dần ổn định. Nước Nga hùng mạnh trở thành một "tên sen đầm" bách chiến bách thắng của châu Âu. [11]
Tuy trào lưu Khai Sáng suy yếu nhưng các tư tưởng của trào lưu triết học này vẫn chưa bị phai sau nhiều biến cố lịch sử, thể hiện qua những cải cách đúng đắn của quan đại thần Triều đình Phổ Heinrich Friedrich Karl vom und zum Stein (1757 - 1831). Rồi chủ nghĩa lãng mạn ra đời.[15] Cuộc Cách mạng Công nghiệp khởi nguồn từ nước Anh vào cuối thế kỷ 18, dẫn đến sự chuyển dịch ra khỏi nông nghiệp và mang lại thịnh vượng chung đồng thời gia tăng số dân. Vào năm 1848, làn sóng Cách mạng lan rộng trên nhiều nước châu Âu, chẳng hạn như Ý. Đó cũng là cái năm mà Karl Marx và Friedrich Engels viết nên bản "Tuyên ngôn của chủ nghĩa Cộng sản".[17] Vào năm 1863, ngọn lửa đấu tranh vì tự do lại bùng cháy tại Ba Lan, nhưng bị chính phủ Nga hoàng đàn áp.[18] Vương quốc Phổ hùng mạnh, với quân sĩ tinh nhuệ đã giành chiến thắng trong một cuộc chiến tranh và gầu dựng nên Đế chế Đức vào năm 1871 dưới sự lãnh đạo của Hoàng đế Wilhelm I và Thủ tướng Otto von Bismarck. Trong các năm 1904 - 1905, châu Âu phải chứng kiến một sự kiện khác thường: Đế quốc Nhật Bản đánh thắng Đế quốc Nga trong cuộc chiến tranh giữa hai nước.[19] Biên giới các nước châu Âu vẫn trong tình trạng hiện nay khi cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc. Kể từ sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai cho đến khi kết thúc tình trạng Chiến tranh Lạnh, châu Âu đã từng bị chia thành hai khối chính trị và kinh tế lớn: các nước cộng sản ở Đông Âu và các nước tư bản ở Tây Âu. Vào khoảng 1990, với sự sụp đổ của Bức tường Berlin, khối Đông Âu dần dần tan rã.
Vị trí địa lý
Về mặt địa lý, châu Âu nằm trong một đại lục rộng hơn là lục địa Âu Á. Ranh giới của lục địa châu Âu với châu Á bắt đầu từ dãy Ural ở Nga phía đông, đến đông nam thì không thống nhất, có thể coi là sông Ural hoặc sông Emba. Từ đó ranh giới này kéo đến biển Caspia, sau đó đến sông Kuma và Manych hoặc dãy Caucasus, rồi kéo đến Biển Đen; eo biển Bosporus, biển Marmara, và eo biển Dardanelles chấm dứt ranh giới với châu Á. Biển Địa Trung Hải ở phía nam phân cách châu Âu với châu Phi. Ranh giới phía tây là Đại Tây Dương, tuy thế Iceland, nằm cách xa hẳn so với điểm gần nhất của châu Âu với châu Phi và châu Á, cũng nằm trong châu Âu. Hiện tại việc xác định trung tâm địa lý châu Âu vẫn còn trong vòng tranh luận.
Trên thực tế, biên giới của châu Âu thông thường được xác định dựa trên các yếu tố chính trị, kinh tế, và văn hóa. Do vậy mà kích thước cũng như số lượng các nước của châu Âu sẽ khác nhau tùy theo định nghĩa. Hầu hết các nước trong châu Âu là thành viên của Hội đồng châu Âu, ngoại trừ Belarus, và Tòa Thánh (Thành Vatican).
Khái niệm lục địa châu Âu không thống nhất. Vì châu Âu không được bao bọc toàn bộ bởi biển cả nên nhiều người coi nó chỉ là bán đảo của lục địa Âu Á. Trong quá khứ, khái niệm lãnh thổ Kitô giáo được coi là quan trọng hơn cả đối với châu Âu.
Trên thực tế, châu Âu ngày càng được dùng là cách gọi tắt để chỉ Liên minh châu Âu (LMCÂ) và các 25 thành viên hiện tại của nó. Một số nước châu Âu đang xin làm thành viên, số khác dự kiến cũng sẽ tiến hành thương lượng trong tương lai (xem Mở rộng Liên minh châu Âu).
[sửa] Đặc điểm địa hình
Về mặt địa hình, châu Âu là một nhóm các bán đảo kết nối với nhau. Hai bán đảo lớn nhất là châu Âu "lục địa" và bán đảo Scandinavia ở phía bắc, cách nhau bởi Biển Baltic. Ba bán đảo nhỏ hơn là (Iberia, Ý và bán đảo Balkan) trải từ phía nam lục địa tới Địa Trung Hải, biển tách châu Âu với châu Phi. Về phía đông, châu Âu lục địa trải rộng trông như miệng phễu tới tận biên giới với châu Á là dãy Ural.
Bề mặt địa hình trong châu Âu khác nhau rất nhiều ngay trong một phạm vi tương đối nhỏ. Các khu vực phía nam địa hình chủ yếu là đồi núi, trong khi về phía bắc thì địa thế thấp dần từ các dãy Alps, Pyrene và Karpati, qua các vùng đồi, rồi đến các đồng bằng rộng, thấp phía bắc, và khá rộng phía đông. Vùng đất thấp rộng lớn này được gọi là Đồng bằng Lớn Âu Châu, và tâm của nó nằm tại Đồng bằng Bắc Đức. Một vùng đất cao hình vòng cung nằm ở biên giới biển phía tây bắc, bắt đầu từ quần đảo Anh phía tây và dọc theo trục cắt fjord có nhiều núi của Na Uy.
Mô tả này đã được giản lược hóa. Các tiểu vùng như Iberia và Ý có tính chất phức tạp riêng như chính châu Âu lục địa, nơi mà địa hình có nhiều cao nguyên, thung lũng sông và các lưu vực đã làm cho miêu tả địa hình chung phức tạp hơn. Iceland và quần đảo Anh là các trường hợp đặc biệt. Iceland là một vùng đất riêng ở vùng biển phía bắc được coi như nằm trong châu Âu, trong khi quần đảo Anh là vùng đất cao từng nối với lục địa cho đến khi địa hình đáy biển biến đổi đã tách chúng ra.
Do địa hình châu Âu có thể có một số tổng quát hóa nhất định nên cũng không ngạc nhiên lắm khi biết là trong lịch sử, vùng đất này là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc tách biệt trên các vùng đất tách biệt mà ít có pha trộn.

Đang cập nhật

Share

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More